Cocktail và rượu không có trong sách giáo khoa dạy các đội bóng cách chuẩn bị cho một trận chung kết cúp châu Âu. Nhưng đó là những gì mà CLB Chelsea lại dùng để đánh bại Real Madrid trong trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1971.

 

Thứ Năm, ngày 20 tháng 5 năm 1971. Lúc này mới chỉ là 11 giờ sáng tại khách sạn Hilton Athens, nhưng cái nóng 27 độ đã phả xuống nền bê tông bên cạnh hồ bơi.

Trong số những người bị cái nắng nóng thiêu đốt đó, bên cạnh đám khách du lịch mặc bikini, còn có rất nhiều CĐV người Anh và cả một nhóm cầu thủ Chelsea. Họ đang đần mặt nhớ lại trận chung kết UEFA Cup Winners’s Cup (Cúp C2 châu Âu) diễn ra trước đó 1 ngày.

Ở trận đấu đó, Chelsea đã rất nỗ lực để tìm cách đánh bại đối thủ Real Madrid hùng mạnh nhằm có được danh hiệu. Tiền vệ quét Ignacio Zoco cuối cùng cũng san bằng tỉ số 1-1 cho Real nhờ một cú sút được thực hiện ngay trước khi trận đấu kết thúc. Hai đội sẽ phải tái đấu vào ngày thứ Sáu.

“Tất cả các cầu thủ đều bị rút ruột sau trận đấu này và họ kéo nhau đi xả láng. Một số người đã trở lại tập trung đúng giờ, nhưng một vài người lại về muộn”, thủ quân huyền thoại Ron ‘Chopper’ Harris của Chelsea thời đó nhớ lại.

Khi trận tái đấu chỉ còn vài giờ nữa là diễn ra, Peter Osgood – tấm bùa hộ mệnh của Chelsea giờ đã trở nên bất tử bên ngoài Stamford Bridge khi được tạc tượng – đã rủ cầu thủ chạy cánh Charlie Cooke và người hùng đình đám Tommy Baldwin đọ tửu lượng.

“Chúng tôi đã uống một vài loại bia khác nhau cho dù người ta luôn nói rằng không nên nốc bia rượu trước khi thi đấu. Nhằm nhò gì, mấy chai bia Hy Lạp nhạt như nước ốc hay nước súc miệng”, Baldwin mô tả lại sự việc trong cuốn hồi ký xuất bản năm 2003 của mình.

Tiền vệ Hudson không tham gia cuộc đấu bia nhưng cũng chẳng có động thái nào để ngăn cản các đồng đội của mình đừng nốc bia rượu ngay trước thềm một trận đấu lớn nhất sự nghiệp của mình. Ông còn gật đầu khi nghe Osgood nói: “Về nhà đi cu, cứ yên tâm, mai chúng ta sẽ thắng”.

Để chuẩn bị cho trận chung kết này, CLB Chelsea đã lưu trú tại khách sạn Apergi ở khu vực Kifissia, chỉ cách vùng lõi của thành phố khoảng 11 dặm. Thế nên, đám ma men bợm nhậu trong đội bóng như rồng được thả vào bể rượu, cứ việc vào trung tâm uống rượu bất chấp lệnh cấm về muộn quá 19h của HLV Dave Sexton.

Khi 3 con ma men mò về khách sạn, trời đã tối khuya. Không may cho họ trong lúc rón rén lẻn vào phòng, họ đã bị sếp bắt gặp và phải chịu phạt. Tuy nhiên, suất đá chính của họ không bị sao cả. Baldwin kể: “Ông ấy còn nói, ngày mai chúng tôi sẽ đá chính”.

Tuy nhiên, đây là Chelsea vào năm 1971 – thời điểm họ nổi tiếng với những trò hề thường diễn ra trên phố King Road cũng như bất kỳ chiến công nào trên sân cỏ. Đó là mùa thứ hai liên tiếp mà Chelsea đã lọt vào một trận chung kết lớn.

Một năm trước, trận chung kết FA Cup 1970 đã thu hút sự chú ý của cả nước Anh. Đó là màn đối đầu giữa giữa bóng đá miền Bắc và bóng đá miền Nam nước Anh. Leeds United không khoan nhượng của HLV Don Revie chống lại những gã giang hồ ở phía tây London của Dave Sexton.

Đó là một màn tranh cúp máu lửa bậc nhất trong lịch sử. Sau trận hoà 2-2 tại Wembley, hai đội phải tái đấu trong trận đấu tại Old Trafford mà trọng tài Michael Oliver cho rằng, nếu được cầm còi, chắc chắn ông sẽ rút ra chí ít 11 tấm thẻ đỏ. Nhưng phải 6 năm sau trận chung kết này, thẻ đỏ mới xuất hiện. Cuối cùng, chức vô địch đã thuộc về Chelsea nhờ cú đánh đầu của Webb trong hiệp phụ và đây là trận chung kết FA Cup được xem trên truyền hình nhiều thứ năm trong lịch sử nước Anh, với 28,5 triệu người theo dõi. Tuy nhiên, ở mùa giải 1970/71, Chelsea sớm bị loại khỏi cuộc đua vô địch, và bị loại khỏi FA Cup từ vòng 4 bởi Man City.

Nhưng châu Âu là một câu chuyện khác. Đầu tiên, Chelsea hạ gục đội bóng Hy Lạp Aris Thessaloniki – “một lũ khốn nạn” theo mô tả của Osgood. Sau đó, họ hạ gục CSKA Sofia với tỷ số 1-0. Đến tứ kết, đoàn quân của Sexton đã đánh bại Club Brugge với tổng số 4-2.

Chelsea gặp lại Man City ở bán kết, và họ thắng cả 2 lượt trận với cùng tỉ số 1-0. Bây giờ, chỉ còn Real Madrid tại chung kết, một đối thủ chỉ còn là bản sao nhạt nhoà của Siêu Real Madrid đã từng giành 5 cúp C1 châu Âu đầu tiên trong nửa cuối thập niên 1950.

Tuy nhiên, trong đội hình Real mùa đó vẫn còn có tiền vệ cánh trái Paco Gento của thế hệ cùng Alfredo Di Stefano đoạt 5 Cúp C1 châu Âu. Khi đó, Gento đã 37 tuổi, chạy chậm hơn và hút tới 70 điếu thuốc mỗi ngày. Bây giờ, Gento vẫn sống khoẻ ở tuổi 87 và là chủ tịch danh dự của Real.

Phần còn lại của đội hình Real Madrid bao gồm Amancio Amaro, Pirri, Manuel Velazquez, Ramon Grosso, Zoco… những gương mặt cuối cùng của thế hệ “Ye-ye” nổi tiếng, vốn chịu sự ảnh hưởng của âm nhạc của The Beatles.

Sự thống trị của bóng đá TBN vào thập niên 1960 với 4 CLB cũng giống như sự thống trị của The Beatles hồi đó với thế giới vậy. Nhưng rồi, thế hệ “Ye-ye” lẫn The Beatles đều kết thúc sự kỳ diệu của mình vào đầu thập niên 1970.

Real khi đó được dẫn dắt bởi Miguel Munoz vĩ đại nhưng chỉ có vé dự Cúp C2 nhờ chức vô địch Cúp Nhà Vua mà thôi. Và để vào đến trận chung kết, Real đã vượt qua các đối thủ Maltese Hibernians, Wacker Innsbruck, Cardiff và PSV.

“Tôi 25 tuổi vào năm 1971. Tôi và 2 người bạn quyết định sẽ đến Athens để cổ vũ Chelsea. Khi đó, CLB đang chào mời một combo khứ hồi gồm bay bằng máy bay phản lực sang Athens và bay về vào ngày hôm sau. Giá của combo là 35 bảng. Nếu bay bằng máy bay trực thăng thì có thể tiết kiệm 10 bảng. Nhưng cuối cùng tôi cũng đồng ý mua combo”, một CĐV của Chelsea là John Sestak kể lại.

Hơn 4.000 CĐV đã tham gia cùng John trong chuyến hành trình này trong thời buổi việc xuất ngoại để xem bóng đá còn sơ khai. Người Hy Lạp tròn xoe mắt khi thấy dân Anh đổ bộ và xâm chiếm quảng trường Omonia của thành phố văn hóa lâu đời nhất thế giới.

“Đội quân khổng lồ của Chelsea” đông gấp đôi lực lượng CĐV của Real. Nhưng chưa hết, Chelsea còn được 45.000 CĐV bản địa ủng hộ trên SVĐ Karaiskakis. Điều này rõ ràng là sự trao đổi lấy màn ủng hộ của người London vào cuối tháng đó, khi Panathinaikos gặp Ajax trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu tại Wembley.

Nhưng cũng bởi dân Hy Lạp hồi đó căm ghét chính quyền phát xít của nhà độc tài Franco bên Tây Ban Nha, một mô hình được chính quyền Hy Lạp sao chép để tạo nên một thể chế quân sự cực hữu đàn áp dã man quyền tự do dân sự từ năm 1967, sẵn sàng tra tấn khủng bố bất cứ người bất đồng chính kiến nào.

Và Real Madrid luôn được coi là đội bóng của Tướng Franco, với các khan đài VIP đầy ắp những tên phát xít mới. Cầu thủ Real thường ra sân trong hàng rào danh dự của lính tráng cầm súng gắn lê tuốt trần như để khủng bố tinh thần của đối thủ.

Khi trận chung kết diễn ra, Chelsea đã có lợi thế dẫn bàn từ phút 56 nhờ bàn thắng của Osgood. Huy chương và Cúp đã sẵn sàng để trao nhưng rồi bàn thắng của Zoco ở phút 90 đã xoá đi tất cả. Hai đội bất lực trong 30 phút của hiệp phụ và đành phải tái đấu sau 2 ngày.

Thủ quân Harris nói: “Chúng tôi đã tham dự một trận chung kết lớn của châu Âu, và sau đó sẽ làm lại tất cả sau 2 ngày. Bây giờ, các đội lại thường phàn nàn rằng họ bị mệt mỏi khi chơi vài trận một tuần”. Nhưng vấn đề là các CĐV Chelsea không đặt vé bay về muộn đến thế.

Họ không chuẩn bị tiền để sống thêm 2 ngày trên đất khách, không được đại sứ quán Anh hỗ trợ. Thế nhưng, nhiều CĐV vẫn chấp nhận ở lại, chấp nhận ngủ vạ vật ngoài trời, ở bãi biển hay các quán bar và đổi vé bay về sau ngày thứ Sáu để cổ vũ cho Chelsea.

HLV Sexton đã cho phép đội của mình nghỉ ngơi xả láng vào thứ Năm – điều dẫn đến màn ăn chơi của bộ ba bợm nhậu Hilton. Nhưng ông cần yên tĩnh để suy nghĩ về nạn chấn thương của Chelsea. Osgood và Dempsey bị nghi ngờ về thể lực, trong khi tiền vệ John Hollins chắc chắn ngồi ngoài. Baldwin sẽ đá thay Hollins, cho phép Charlie Cooke lùi sâu hơn một chút và có nhiều tác động hơn đến trận đấu. Sau trận đấu, báo chí TBN thừa nhận: “Nếu chúng ta đã ngăn được Charlie Cooke, Real Madrid đã giành được cúp vô địch”.

SVĐ Karaiskakis rất vắng trong trận tái đấu bởi đa số CĐV của Real và một số CĐV Chelsea đã về nhà, trong khi sự nhiệt tình của NHM Hy Lạp dường như đã cạn kiệt. Chỉ có khoảng 2 vạn khán giả trên sân. The Blues đã được ca ngợi là “con ngựa ô” với khả năng phòng ngự trong cuộc đụng độ đầu tiên, nhưng kỳ lạ thay, ở màn tái đấu họ đã thể hiện bộ mặt khác.

Không hiểu có phải do uống nhiều bia và rượu hay không mà những cầu thủ đá như lên đồng. Đa số các màn tấn công đều lấy cảm hứng từ Cooke, người vẫn thơm lừng mùi hồng xiêm trong mồm. Tội đồ Dempsey của 2 ngày trước đã đưa Chelsea dẫn 1-0 với một cú vô lê mãn nhãn.

6 phút sau, Osgood tung cú sút xa từ ngoài khu vực cấm địa, giúp Chelsea dẫn 2-0 trước giờ nghỉ. Một bàn thắng trong hiệp hai của tiền vệ cánh người Paraguay Sebastian Fleitas là không đủ cho Madrid của Munoz, khiến CLB này lần đầu tiên chịu cảnh không có danh hiệu kể từ mùa 1952/53.

Nếu rượu bia đã giúp Chelsea đá tưng bừng trước và trong trận đấu thì mọi thứ sau đó còn khiếp đảm hơn.

“Charlie Cooke và Baldwin mò vào một hộp đêm cùng một vài nhà báo. Họ thi nhau nốc rồi đập vỡ đĩa trong lò sưởi để ăn mừng theo kiểu Hy Lạp. Số lượng đĩa bị đập nhiều đến nỗi đám say xỉn kia không đủ tiền để trả, và may mắn được một đại gia trả hộ.

Còn ở phố King’s Road, mọi thứ còn tưng bừng hơn. Một quán rượu có tên World’s End khoe bán được 1.000 thùng rượu trong đêm đó cho đám CĐV vừa hạ cánh xuống Heathrow đã lập tức lao đến Stamford Bridge để ăn mừng. Họ coi việc Chelsea giành chiếc Cúp đó chẳng kém gì ĐT đoạt Cúp Vàng World Cup 1966.

Nhưng 4 năm sau, The Blues bị xuống giải hạng Nhì. Điều đó càng khiến người ta tự hỏi tại sao Chelsea không thể thành công ở giải hạng Nhất như ở FA Cup hay Cúp C2 châu Âu? Câu trả lời có lẽ được tìm thấy trong đáy ly rượu của những bợm nhậu tại quầy bar của khách sạn Hilton ở Athens.

Nhà báo Powell giải thích: “Sexton là một HLV thông minh và ông biết cách dùng hơi men để kích thích tinh thần chiến đấu của cầu thủ. Nhưng cách thức này chỉ có tác dụng trong 1-2 trận đấu, còn nếu áp dụng lâu dài là toi cả đội hình.

Với bộ ba Cooke, Osgood và Huddy lâng lâng vì men rượu, Chelsea may mắn có được nhuệ khí và nguồn cảm hứng trên sân cỏ. Có thể nói, Chelsea đã đánh bại Real Madrid và giành chức vô địch châu Âu đầu tiên nhờ sự chếnh choáng, nôn nao của các tửu đồ bợm bãi. Một chức vô địch thơm lừng mùi hồng xiêm”.

Phải đến cuối thập niên 1990, Chelsea mới lại nếm trải thành công, khi những ngôi sao Roberto Di Matteo và Gianfranco Zola sánh vai với những người hùng bợm rượu năm 1971 nhờ giành được FA Cup và Cúp C2 trong 2 mùa giải liên tiếp. Họ còn đánh bại Real Madrid ở Siêu cúp châu Âu năm 1998. Nhưng họ đã làm điều đó khi không có hột rượu nào trong người!



Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *